Việt Nam có bờ biển dài 3.200 km , bình quân 100 km2 có 1 km bờ biển. “Mật độ” này thường chỉ có những nhà nước là đảo quốc mới có được. Bờ biển của nước ta có nhiều vùng vịnh lừng danh đứng đi hàng đầu trên thế giới về phong cảnh , về các cảng phục vụ phát triển kinh tế , canh giữ giang sơn. Biển Đông cũng là đường hàng hải quan trọng; là nơi khá giàu tài nguyên chiến lược. Biển đã mang lại cho núi sông nhiều ích lợi kinh tế , trong đó nổi là dầu thô , thủy sản , muối , lôi cuốn một lượng khách du lịch , nghỉ dưỡng ven biển khoảng vài ba triệu lượt người , với lượng ngoại tệ lên đến vài ba tỷ USD , … ước tính sơ bộ , kinh tế biển đã đóng góp khoảng 1/4 GDP của cả nước , giải quyết việc làm cho hàng chục triệu lao động , đóng góp trên dưới 1/3 tổng thu ngân sách của cả nước , …Tuy nhiên , Việt Nam về cơ bản còn ở vị thế “đứng trước biển”. So với mục tiêu kinh tế biển đóng góp 50% GDP của cả nước , thì tỷ lệ đóng góp hiện tại mới đạt khoảng một nửa ( mới được 25% ).Việc khai thác thuỷ sản tuy vẫn nối tiếp tăng , nhưng nếu nối tiếp khai thác gần bờ , với phương tiện còn thô sơ , thì nguồn lợi thủy sản sẽ dần cạn kiệt; kim ngạch nhập cảng thủy sản để chế biến xuất biên đã đạt quy mô không nhỏ từ mấy năm nay ( năm 2008 là 306 triệu USD , năm 2009 là 280 triệu USD , năm 2010 là 334 triệu USD , 5 tháng 2011 là 182 triệu USD , tăng tới 47 , 8% so với cùng kỳ năm trước , trong lúc chương trình đánh bắt xa bờ công hiệu còn thấp…Việc khai thác muối gặp khó khăn về giá cả , lúc thừa lúc thiếu , còn phải nhập cảng cho sản xuất - một cảnh tượng không thông thường đối với một nước có bờ biển dài. Tình trạng biển lở Lộ rõ ra càng ngày càng tăng và phổ quát ở nhiều nơi; diện tích trồng trọt gây rừng ngăn mặn , ngăn cát , chắn sóng , chắn gió tăng chậm , ở nhiều nơi còn bị giảm , do chưa được các địa phương chưa thực hiện nghiêm chỉnh và quyết liệt chủ trương trồng và canh giữ rừng ven biển. Tình trạng nước mặn càng ngày càng ngấm sâu vào đất liền , ảnh hưởng không nhỏ đến diện tích , năng suất , sản lượng nông nghiệp ở nhiều địa phương. Việt Nam được quốc tế báo trước là một trong 5 nhà nước bị ảnh hưởng nặng nhất của cảnh tượng nước biển dâng do biến chuyển khí hậu với trên một phần tư dân số cả nước bị ảnh hưởng trực tiếp , tác động xấu đến an ninh lương thực. Đáng để ý , diễn biến tình hình trên biển Đông đang gây ra sự lo ngại và biến hóa của dư luận ở trong nước , ở khu vực ấn độ dương và trên thế giới.Việt Nam cần chuyển từ vựng thế “đứng trước biển” sang vị thế thật sự “xuống biển” nhằm khai thác tiềm năng từ biển phục vụ phát triển kinh tế - từng lớp. Để “xuống biển” thật sự , chúng tôi cần phải làm nhiều việc.Trước hết , cần phát huy vai trò vị thế làm chủ hải phận của mình theo pháp luật quốc tế. Điều quan trọng là cần phát triển kinh tế để Có sẵn sức vươn ra biển lớn. Song song , vừa bằng nội lực , vừa thực hiện phương châm “đa dạng hóa , đa phương hóa” – trong giao tế ngoại giao , chính trị , đầu tư , buôn bán giữa Việt Nam và các nước - phương châm đã đem lại những thành tựu đáng cổ vũ trong quá trình cải cách , mở cửa , hội nhập.Cần tiến hành đánh giá tươm tất , chi tiết những mặt đã làm được , những mặt chưa làm được trong quá trình thực hiện chiến lược về biển. Ngoài mục tiêu Bao gồm , các mục tiêu chính yếu Ngày trước , nhu yếu phải Sửa sang những mục tiêu mới , các giải pháp mới cho phù hợp với tình hình thực tế hiện tại. Những mục tiêu trên , giải pháp “xuống biển” đều phải gắn rất chặt với mục tiêu Bao gồm ( kinh tế biển đóng góp 50% GDP – giàu từ biển ); gắn với diễn biến thực tế trên biển Đông ( mạnh về biển ); gắn với biến chuyển khí hậu làm nước biển dâng.Trên cơ sở những mục tiêu , giải pháp của cả nước , các Bộ , ngành , địa phương Sửa sang mục tiêu , giải pháp cụ thể phù hợp và tổ chức thực hiện. Những địa phương có biển cần cụ thể hóa vai trò và sự đóng góp của kinh tế biển đối với hết thảy nền kinh tế của địa phương về các mặt cụ thể , như giải quyết công ăn việc làm , đóng góp về ngân sách , đóng góp về Công lao , về nông , lâm nghiệp- thủy sản , đóng góp về GDP , …Đứng trước báo trước về biến chuyển khí hậu , nước biển dâng , các Bộ ngành cần có quy hoạch , kế hoạch để ứng phó; các địa phương , nhất là các địa phương tiếp giáp với biển cần tính tới những khả năng tác động , và ngay từ bây giờ có biện pháp chủ động ứng phó từ quy hoạch xây dựng , hệ thống đê biển , xây dựng các công trình ven biển , bảo đảm an ninh lương thực.Đào Ngọc
.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét